Chữ A Màu Đỏ

Trong cuốn tiểu thuyết Chữ A màu đỏ được Nathaniel Hawthorne cho ra đời năm 1850, thiếu phụ Hester Prynne và bé Pearl – đứa “con hoang” của chị là những nạn nhân dưới sức mạnh và sự nghiêm khắc trong xã hội của những tín đồ Thanh Giáo ngoan đạo của thành phố Boston vào thế kỷ mười bảy. Hester Prynne phạm phải tội ngoại tình – một tội rất nghiêm trọng và bị kết án hết sức nghiêm khắc vào thời bấy giờ. Chị bị buộc phải mang chữ A màu đỏ, viết tắt cả Adultery nghĩa là ngoại tình, trước ngực cho đến cuối đời. Trong khi đó, một con người khác, một mục sư được kính trọng như một vị thiên thần cũng mang trọng tội. Tuy nhiên, tội lỗi đó không được phơi bày mà được giấu đi và hàng ngày hành hạ, phá huỷ con người mang nó một cách khắc khổ nhất.

Về Boston và Thanh Giáo

Từ thập kỷ 1620, tín đồ Thanh giáo từ Anh quốc bắt đầu đến định cư ở vùng đất miền đông-bắc Mỹ, gọi là New England, “nước Anh mới”. Vùng này hiện bao gồm các tiểu bang Maine, New Hampshire, Vermont, Massachusetts, Rhode Island và Connecticut. Phía tây vùng này giáp Thành phố New York, phía bắc giáp Canada, phía đông Đại Tây Dương. Nhiều biến cố lịch sử trong thời kỳ lập quốc và giành độc lập của Hoa Kỳ xảy ra tại vùng này. Riêng thành phố Boston (hiện là thủ phủ tiểu bang Massachusetts), nơi câu chuyện xảy ra, là một trong những khu định cư sớm nhất của Thanh giáo ở nước Mỹ. Boston cũng là cái nôi của cuộc Cách mạng Mỹ (1775–1783) giành độc lập từ Anh quốc. Cuộc chiến giữa Hoa Kỳ và Anh quốc trong các năm 1812–1815 cũng liên quan quan mật thiết với Boston và được xem như cuộc chiến “giành độc lập thứ hai”, vì Hoa Kỳ muốn bảo vệ lãnh hải và đường hàng hải của mình, chống lại sự quấy rối của hải quân Anh quốc.

Tín đồ Thanh giáo là những người xuất phát từ giáo hội Anh vào giữa thế kỷ 16, vì có đầu óc muốn cải tổ mà họ muốn “thanh lọc” giáo hội này. Cốt lõi của Thanh giáo là hành xử theo đạo đức trong các mối liên hệ gia đình và xã hội, và một hệ thống quyền lực tuân thủ chặt chẽ những giáo lệnh của Thượng đế. Cuộc đời của tín đồ Thanh giáo gắn với kỷ luật tự giác và việc tự mỗi người phán xét lấy chính mình. Do phản ứng của Giáo hội Anh có những biện pháp đàn áp, nhiều tín đồ Thanh giáo rời nước Anh đến lập cuộc sống mới ở châu Âu và châu Mỹ. Năm 1620, một nhóm đến định cư ở Mỹ trong chuyến hải hành mà họ gọi là pilgrimage (cuộc hành hương), và tự gọi mình là pilgrim (người hành hương). Trong hoàn cảnh vừa thoát khỏi luật lệ cai trị ở chính quốc, các di dân nam giới trên tàu Mayflower đi vào lịch sử cùng ký vào Hiệp ước Mayflower (Mayflower Compact), tạo nền tảng cho họ có quyền đặt ra luật lệ ở các vùng định cư mới. Riêng hành khách trên tàu Mayflower lập nên vùng định cư Plymouth.

Về sau, một số tín đồ Thanh giáo người Anh đang định cư ở Hà Lan cũng di hành vì đạo đến Plymouth. Hester Prynnes cùng đi trong nhóm này, và bản án cũng ghi cô là một di dân vì đạo. Có thể nói bản án chữ “A” màu đỏ dựa trên cơ sở Hiệp ước Mayflower.

Bối Cảnh Chữ A Màu Đỏ

Nhân vật Hester Prynne là có thật theo lời của Nathaniel Hawthorne. Chứng cứ có thể tìm thấy trong Hồ sơ thuộc địa tại một địa phương mà ông quyết tâm tìm hiểu sau một thời gian cảm thấy trí óc và tư tưởng của mình bị bào mòn trên chiếc ghế nhân sự phòng thuế quan.

Hình phạt mang biểu tượng như chữ “A” màu đỏ không phải là hiếm vào thời ấy. Có nhiều người bị án phải mang chữ “B” vì tội phạm thánh (blasphemy), hoặc chữ “D” vì say rượu (drunkenness).

Chữ A màu đỏ cung cấp cho người đọc thêm nhiều thông tin về bối cảnh lịch sử thời bấy giờ của nước Anh và hành trình di cư đến những vùng thuộc địa mới của họ, trong đó có Mỹ, vào khoảng thế kỷ mười sáu, mười bảy. Tuy nhiên, đối với Hester Prynne, chữ “A” màu đỏ sỉ nhục ấy lại tiến đến chỗ biến thành một biểu tượng mang ý nghĩa khác hẳn: ý nghĩa của lòng nhân ái, của nguồn an ủi, ý nghĩa của cái thánh giá trên ngực người nữ tu sĩ, trước con mắt những tín đồ Thanh giáo khắc nghiệt. Chị bị tách ra khỏi mọi quyền lợi về tinh thần, tuy nhiên vẫn sát kề bên cạnh, giống như một hồn ma luôn trở về bên bếp lửa gia đình nhưng không còn có thể làm gì cho người thân nhìn thấy hay cảm thấy được sự có mặt của mình. Không còn có nụ cười chia sẻ niềm vui với kẻ ruột thịt, cũng không được khóc than san bớt nỗi đau với họ hàng; hoặc là nếu có cách biểu lộ ra được những tình cảm bị cấm đoán ấy, thì hồn ma ấy cũng chỉ gợi lên sự kinh hãi và ghê tởm khủng khiếp.

Nó có tác dụng như một thứ bùa phép, lôi chị thoát ra khỏi những mối liên hệ thông thường với loài người, đặt chị trong một môi trường đặc biệt của riêng một mình chị.

Thiếu Phụ Hester Prynne

Khi người thiếu phụ – người mẹ trẻ của đứa bé ấy đứng bộc lộ hoàn toàn trước mắt đám đông, hình như phản xạ đầu tiên của chị là ghì chặt đứa bé vào ngực, chẳng phải chủ yếu do một sự thôi thúc của tình mẹ con mà hình như chính là để có thể che giấu đi một dấu hiệu gì đấy thêu hoặc đính trên áo của mình. Thế nhưng, một lát sau, tỉnh táo nhận thức được rằng một dấu hiệu này của sự hổ thẹn sẽ chỉ có tác dụng vụng về che giấu không nổi một dấu hiệu khác mà thôi, chị bèn hạ con xuống, bế trên cánh tay rồi ngẩng khuôn mặt đỏ bừng, tuy nhiên với một nụ cười ngạo mạn và một cái nhìn mà không ai dễ gì làm cho bối rối, chị đưa mắt nhìn những người dân trong thành phố và láng giềng của chị vây quanh.

Sáng hôm ấy, chị đã chịu đựng tất cả những gì mà sức sống tự nhiên có thể chịu đựng, và có lẽ tính khí của chị không phải thuộc loại ngất xỉu đi để thoát khỏi cơn đau quá độ, nên tinh thần của chị chỉ có thể ẩn tránh dưới cái cứng cỏi của sự vô tri vô giác, trong khi đó thì những năng lượng của sự sống vẫn tồn tại nguyên vẹn.

Sự xuất hiện của người đàn bà xinh đẹp này, đầy vẻ sinh động như một bức tranh trong bộ trang phục ấy, với phong cách ấy, và với đứa bé trên tay, chắc đã có thể gợi lên cho anh ta hình ảnh Đức Mẹ thánh thần, mà biết bao nhiêu  hoạ sỹ lừng danh xưa nay đã từng đua nhau miêu tả; chắc đã gợi cho anh ta nghĩ đến, chỉ có điều là bằng cách so sánh tương phản mà thôi, hình ảnh thiêng liêng ấy của người mẹ trong trắn không chút lỗi lầm, và đứa bé ẵm ngửa trên tay về sau sẽ trở thành đấng cứu thế của nhân loại.

Chị không còn có thể vay mượn gì của tương lai để giúp chị vượt qua nỗi đau hiện tại. Ngày mai sẽ mang lại điều thử thách riêng của ngày mai, mỗi ngày một điều thử thách của riêng ngày ấy, thế những cũng vẫn là điều thử thách mà chị đang phải gánh chịu ngày hôm nay với nỗi đau khôn tả.

Bé Pearl

Chúa đã ban cho chị một đứa con, coi đó là hậu quả trực tiếp của lỗi lầm mà con người chị đã phạm phải, một đứa con xinh đẹp đáng yêu, ôm ấp giữa chính bộ ngực mang dấu nhơ nhuốc đó. Một sinh linh bé nhỏ và vô tội đã xuất hiện trên cõi đời do ý muốn bí hiểm của thượng đế, một đoá hoa bất tử nở ra từ dục vọng dạt dào của đam mê tội lỗi. Người phụ nữ khốn khổ theo dõi đứa con mình lớn lên, nhận thấy ở những nét của đứa bé một vẻ đẹp ngày càng rực rỡ, một vẻ thông minh ngời lên như ánh mặt trời lun linh toả sáng.

Bé Pearl mới ra đời, đã bị ruồng bỏ khỏi thế giới trẻ con. Sinh ra từ điều xấu, biểu tượng và sản phẩm của tội lỗi, bé không có quyền gì giữa những trẻ con đã được làm lễ rửa tội. Và ở bé, người ta không thấy gì ngoài tính tự do được phát sinh từ một luật lệ bị vi phạm.

Thật là buồn khôn tả khi nhận thấy ở đứa trẻ còn bé bỏng làm vậy một ý thức thường xuyên nhìn thế giới là thù địch, và một sự tập dượt nghị lực ác liệt đến thế để giải quyết giành thắng lợi cho mình trong cuộc giao tranh nhất định sẽ xảy ra sau này.

Chàng Mục Sư Trẻ Dimmesdale –Cha Bé Pearl

Chàng mục sư Dimmesdale, ngay từ đầu đã được lão Chillingworth nhận xét là một sự giao cảm kỳ lạ giữa linh hồn và thể xác. Chính từ đó mà lão quyết tâm đào sâu nghiên cứu chàng, ban đầu với một tinh thần hết sức trong sáng của một nhà học giả lỗi lạc.

Mặc dù chàng mục sư trẻ có thiên tư lỗi lạc và kiến thức của một nhà học giả, người ta thấy ở anh một khí sắc thật kỳ lạ, một cái vẻ e sợ hoảng hốt, gần như là hãi hung, như cái vẻ của một kẻ cảm thấy mình hoàn toàn lạc lối, bối rối trên đường đời, và chỉ có thể thoải mái thanh thản khi rút lui vào một nơi nào đó tách biệt với mọi người.

Dimmesdale được người dân mến mộ và kính trọng như một vị thiên thần trong sáng và thánh thiện. Người ta tìm thấy ở anh niềm an ủi và tất cả những gì cần thiết cho một tín đồ Thanh Giáo ngoan đạo. Thế nhưng, trong suốt thời gian được ngưỡng mộ như vậy, có lẽ mỗi khi chàng mục sư Dimmesdale tội nghiệp suy  nghĩ đến phần mộ của mình, hẳn là anh luôn tự đặt câu hỏi rằng rồi đây liệu có bao giờ cỏ mọc được trên nấm mồ anh không, bởi vì dưới mồ ấy chôn một thứ thật đáng nguyền rủa.

Không phải chỉ một lần, anh đã hắng giọng, hít một hơi dài, sâu, run rẩy chuẩn bị để khi thở ra là sẽ trút ra luôn gánh nặng của điều bí mật kinh tởm trĩu trong tâm hồn mình. Để rồi cuối cùng, chàng chết cũng trên bục bêu tội giữa khu chợ, bên cạnh Hester Prynne, trước sự ngỡ ngàng của toàn bộ giáo dân trong đó có Chillingworth – người luôn căm thù chàng và hi vọng ở chàng một sự đày đoạ tâm can lâu dài hơn.

Chillingworth – Thầy Thuốc của Mục Sư Dimmesdale và Chồng của Hester Prynne

Chillingowrth chính là chồng của Hester Prynne sau một thời gian trở về quê nhà đúng vào cái ngày chị bị bêu trên bục tội nhân cùng đứa bé mà lão không biết là con của ai. Lão đã quyết tâm tìm cho ra tòng phạm với người vợ tội lỗi của mình. Tuy có lúc lão cũng hối hận khi xưa đã kéo Hester Prynne xinh đẹp đang ở vào độ tuổi thanh xuân đẹp nhất vào với cuộc đời xế chiều hoang tàn của mình, nhưng với sự thông thái của một vị học giả và xảo trá quỷ quyệt của một con quỷ ranh ma, lão đã tìm ra được và bắt Dimmesdale phải trả giá bằng chính thanh danh cùng mạng sống của mình.

Trong suốt cuộc đời của gã trước đây, Roger Chillingworth là một con người tính khí điềm đạm và tốt bụng. Tuy không có tình cảm nồng nhiệt nhưng trong mọi mối giao tiếp xã hội, bao giờ gã cũng là con người trong sáng và ngay thẳng. Gã đã bắt đầu cuộc khảo sát nghiên cứu ở chàng mục sư trẻ với một tinh thần chính trực, theo gã nghĩ và nghiêm khắc sánh ngang với tinh thần của một quan toà, chỉ ham muốn tìm ra sự thực, như thể vấn đề này chỉ bao gồm những đường nét và hình vẽ của một bài toán hình học.

Sự căm hận và thù ghét, ham muốn trả thù đã biến lão dần trở thành một con người khác. Thỉnh thoảng, một tia sáng ánh lên trong đôi mắt của lão, xanh lét và bất thường, như phản chiếu từ một lò nung, hoặc có thể nói, như một ánh loé sáng của ngọn lửa ghê rợn phụt ra từ cửa hang khủng khiếp của Bunyan bên sườn núi, chập chờn rọi trên khuôn mặt người hành hương.

 

Chữ A màu đỏ được xem là một trong những “tiểu thuyết lãng mạn” kinh điển của nền văn học Mỹ, là một kiệt tác với những phân tích thấu đáo mạnh mẽ về tâm lý và tâm linh con người lồng trong những quan tâm sâu sắc đến tội lỗi, hình phạt và cứu chuộc. Một tác phẩm mang tầm vóc lớn lao của Nathaniel Hawthorne.

ReadWriteBlossom

Spread the love

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *