Phía Tây Không Có Gì Lạ

Phía Tây không có gì lạ được Erich Maria Remarque cho ra mắt vào năm 1929, mô tả rất chân thực về chiến tranh dưới con mắt của chính người từng tham chiến là tác giả. Cuốn sách nói về những điều kinh khủng mà chiến tranh gây ra với những thế hệ trẻ non nớt chưa kịp trưởng thành đã phải vội già cỗi và lãnh đạm. Nó không phải là “một bản cáo trạng hay một lời thú tội”, nó chỉ cố gắng kể một cách thật nhất, trần trụi nhất về chiến tranh và những gì nó đã gây ra với tác giả và những người đồng đội của mình.

Chính quyền quốc xã cấm lưu hành những tác phẩm của Remarque vì những “tư tưởng chủ bại” trong đó, sau đó chúng còn bị tiêu hủy trong các cuộc đốt sách công khai khiến ông phải sang Thuỵ Sỹ sinh sống. Vào năm 1936, tiểu thuyết Ba người bạn ra đời khiến ông chính thức bị tước quyền công dân Đức hai năm sau đó. Bất chấp tất cả những điều này, ông vẫn tiếp túc viết về những con người đã tham gia và chứng kiến sự tàn khốc của chiến tranh và tất cả chúng đều được đón nhận.

Tác phẩm Phía Tây không có gì lạ đã được Hollywood chuyển thể thành phim và lập tức đoạt hai giải Oscar, một cho phim hay nhất và một cho đạo diễn xuất sắc nhất. Cũng nhờ cuốn tiểu thuyết, Erich Maria Remarque đã được đề cử giải Nobel Văn chương và Hòa bình năm 1931.

Những Thế Hệ Trẻ Bị Chiến Tranh Huỷ Hoại

Tiểu đội của Paul có Kat, Albert, Muller, Tjaden, Leer, Detering, Kemmerich, và Paul. Mỗi người mang trong mình những ký ức riêng, tính cách riêng và đều đang ở độ tuổi đẹp nhất của cuộc đời, tuổi 20. Vậy mà những gì họ biết về cuộc đời chỉ là những nỗi tuyệt vọng, cái chết, nỗi sợ hãi. Họ cũng như bất kỳ thanh niên trẻ nào trên thế giới này, luôn khao khát một cuộc sống bình yên. Họ thèm muốn sống cuộc sống trong cái hình hài khiêm nhường của nó.

Xe tăng, súng ống, lựu đạn, bom ngạt… từ ngữ, chỉ là những từ ngữ nhưng chúng chứa đựng tất cả sự khủng khiếp trên đời.

Chứng kiến những cái chết hàng ngày hàng giờ diễn ra ngay trước mắt, và mình là một trong những con thú dữ nguy hiểm giết người là một cảm giác mà không một người nào chưa từng tham gia chiến tranh có thể thực sự hiểu được hết. Họ trúng đạn hay sống sót cũng đều do may rủi. Họ có thể tan xác dưới một căn hầm chống bom hoặc sau nhiều ngày ròng rã chịu cơn mưa bom bão đạn trên cánh đồng trơ trọi không nơi ẩn nấp. Họ không tấn công mà chỉ đang tự vệ trước sự hủy diệt. Họ quăng lựu đạn không phải để giết những con người. Họ chỉ đang cố gắng xua đuổi thần chết đang đuổi theo mình dưới hình dạng của những con người bên kia chiến tuyến. “Tôi không tiêu diệt chúng thì chúng sẽ tiêu diệt tôi.”

Đôi khi, cái chết đối với họ còn là sự cứu rỗi.

Trên chiến tuyến, họ tận mắt chứng kiến những người đồng đội mà họ cùng ăn chung, tắm chung và ngủ chung hầu như không còn đủ sức để di chuyển dưới sức tàn phá của đạn pháo. Những người anh em vào sinh ra tử nay chỉ còn là một bó bông băng la hét điên dại vì đau đớn không chịu đựng nổi, hay chỉ còn là những mảnh thịt vương vãi khắp nơi. Mỗi ngày sống với họ là mỗi ngày với sự tra tấn tàn bạo. Họ – những người tỉnh táo phải đưa ra quyết định kiểu như “Liệu có nên dùng khẩu súng lục để kết thúc chuyện này hay không?” Để những linh hồn như vậy sống thêm vài ngày phỏng có ích gì cho ai.

“Chúng tôi lột trần hông cậu ta ra. Nó chỉ còn là một đống thịt bầy nhầy cùng những mảnh xương. Khớp háng bị trúng đạn. Cậu bé này sẽ chẳng bao giờ còn bước đi được nữa.”

Sự Điên Rồ và Phi Lý Của Chiến Tranh

Dù họ luôn cảm thấy tội lỗi và day dứt, nhưng sự thật là họ vô tội, họ chẳng làm gì để gây nên việc này cả. Họ thậm chí không thể hiểu nối vì sao mình lại đang lang thang giữa chốn địa ngục tàn khốc này. Không những phải chịu đựng sự khốc liệt của bom đạn, hơi ngạt với chiến tranh, họ còn phải oằn mình dưới áp lực đến từ tấm lòng nhân hậu và lương thiện của mình. Đôi khi, họ cố gắng tìm cách lý giải nhưng không thành công. Các dân tộc đi tới chỗ chống lại nhau rồi chém giết nhau một cách u mê, rồ dại và ngây thơ. Điều đó sản sinh ra một thế hệ trẻ như họ dành cả quãng thời gian mơ mộng nhất, tươi đẹp nhất để giết chóc – nghề nghiệp đầu tiên trong đời.

Với những kẻ ở tuổi đôi mươi chúng tôi, với Kropp, Muller, Leer và tôi, thế hệ mà lão Kantorek gọi là tuổi trẻ sắt gang, cái gì cũng rất đỗi mơ hồ. Đám lính lớn tuổi hơn đều gắn bó chặt chẽ với quá khứ, họ có đất đai, có vợ con, có nghề nghiệp và quyền lợi, chúng đủ bền chặt để chiến tranh không thể rứt đứt. Nhưng chúng tôi, bọn trai trẻ đôi mươi, chỉ có cha mẹ và vài thằng có bạn gái. Thật không đáng gì… vì ở tuổi chúng tôi cha mẹ có sức ảnh hưởng ít nhất, còn các cô gái thì chưa chi phối được. Ngoài ra những thứ khác chẳng có gì đáng kể: một chút mơ mộng, vài mối tình  nhăng nhít và trường học; cuộc đời chúng tôi mới có bấy nhiêu. Và giờ đây chẳng còn gì đọng lại.

Những mệnh lệnh đã làm con người xa lạ từ chỗ hoàn toàn có thể là những người bạn tốt của nhau trở thành kẻ thù của nhau. Làm sao lại đến nỗi phải coi những hình thù lặng lẽ với những gương mặt trẻ thơ kia là kẻ thù của mình và xả đạn vào họ bất cứ khi nào có cơ hội kia chứ? Họ có khác gì những người đồng đội đang kề vai chiến đấu với mình đâu? Họ cũng có tuổi trẻ, ước mơ hoài bão, cũng có gia đình và một số còn có những mối tình đẹp. Họ cũng sợ hãi cái chết và các bà mẹ của họ cũng lo lắng cho họ như bất cứ bà mẹ nào trên đời. Thế mà những gì họ phải đối diện là trái phá, hơi ngạt, chiến xa, kiết lỵ, cúm, thương hàn, chiến hào, bệnh viện dã chiến – thiêu đốt, chết, mồ chôn tập thể. Không có cách nào khác.

Khi tắm, Franz Kemmerich trông nhỏ bé và gầy gò như một đứa trẻ. Vậy mà giờ cậu ấy đang nằm đây, tại sao chứ? Người ta cần phải dẫn cả thế giới đến bên chiếc giường này và nói: Đây là Franz Kemmerich, mười chín tuổi rưỡi, cậu ấy không muốn chết! Xin đừng để cậu ấy chết!

Đồng đội của họ cứ chết dần. Có người được chết một cách nhẹ nhàng bởi một viên đạn vào chỗ nguy hiểm nhưng có người tội nghiệp hơn khi phải chứng kiến cái chết đến một cách từ từ và đau đớn. Cũng có nhưng người như Detering, chỉ vì hình ảnh một cây bạch dương trông thấy trên đường hành quân mà bao nhiêu ký ức về quê nhà bình yên sống lại, làm dậy lên trong anh da diết nỗi nhớ nhà, nhớ cánh đồng bạch dương và thôi thúc anh trốn khỏi quân ngũ. Người ta bắt được anh nhưng những người đồng đội không còn bao giờ được nghe tin gì về anh nữa. Những người còn sống, đôi khi họ thấy mình may mắn kinh khủng khiếp khi thoát khỏi tay tử thần. Họ tiếp tục hành trình tọng thức ăn vào cơ thể, chạy, quăng lựu đạn, bắn, giết, nằm vạ vật, ốm yếu và đờ đẫn. Đa số thời gian, họ phải đờ đẫn hóa bản thân như một cơ chế tự vệ, sự tỉnh táo và sáng suốt cũng có thể khiến họ phát điên và giết chết họ.

Họ Sẽ Là Ai Khi Chiến Tranh Kết Thúc?

Với những người may mắn thoát khỏi những cỗ máy giết chóc, họ sẽ tiếp tục sống. Nhưng họ sẽ là ai và sẽ sống tiếp như thế nào? Họ sẽ không bao giờ còn giống như trước khi tham gia chiến tranh và chứng kiến quá nhiều, họ sẽ không bao giờ còn vô tư lự nữa và họ sẽ lãnh đạm khiếp lắm.

Với những người khác lớn tuổi hơn, chiến tranh chỉ là một sự gián đoạn, họ có thể nghĩ tới những gì sau chiến tranh. Nhưng chúng tôi bị chiến tranh tóm gáy và không biết rồi sẽ kết thúc ra sao. Cái chúng tôi biết chỉ là tạm thời, rằng chúng tôi đã trở nên thô lỗ và kỳ quặc một cách đáng buồn, cho dù chúng tôi thậm chí chẳng mấy khi còn biết đến cảm giác buồn.

Ai cũng có những ký ức vui buồn. Trong những thời điểm tưởng chừng như họ đầu hàng sự hèn nhát đến nơi thì những ký ức êm đềm ùa về. Chúng có thể lay động trái tim những người lính như Paul, giúp anh thở phào, nhẹ nhõm và tan chảy trong giây phút, từ đó tiếp tục sống dù chỉ là lay lắt như những ngọn đèn trước gió. Tuy nhiên, những ký ức là con dao hai lưỡi với tính chất hai mặt của nó. Trên chiến tuyến là vậy nhưng khi trở về nhà, họ sẽ đâm sầm vào ký ức về những tia chớp lửa, những tiếng rít đạn pháo và bom mìm ở mọi nơi, mọi ngóc ngách trong cuộc sống. Đôi khi họ sẽ cảm thấy lạ lẫm và không quen với sự bình yên bởi ngoài mặt trận, họ thậm chí còn chưa bao giờ được lùi đủ xa để không còn nghe tiếng súng. Chúng sẽ trở lại liên tục.

Chúng tôi bị bỏ rơi như những đứa trẻ bơ vơ, và thạo đời như những ông già; chúng tôi thô lỗ, u sầu và hời hợt… tôi nghĩ rằng chúng tôi đã hỏng bét.

Họ thuộc về chiến tranh, thuộc về những người đồng đội với tình cảm gắn kết ấm áp và sâu nặng. Họ có chung mục đích, chung một nỗi sợ hãi và chung một cuộc đời, luôn ở bên nhau và hỗ trợ nhau. Giữa họ trước và sau chiến tranh sẽ luôn có một hố sâu ngăn cách. Hố sâu đó cũng mở rộng dần giữa họ với những người luôn ở hậu phương, không biết và tận mắt chứng kiến những con người chết trong tư thế đang đứng hay đang ngồi và tím tái vì hơi ngạt. Họ sẽ cảm thấy xa lạ và lạc lõng chính tại nơi trước kia từng là thân thuộc. Những người như Paul sẽ luôn muốn ngồi một mình và không muốn bị rầy hà vì anh biết, rồi những người khác sẽ trở về với câu hỏi mà Paul không bao giờ muốn trả lời – những câu hỏi về chiến trận.

ReadWriteBlossom

Spread the love

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *